GIỚI THIỆU
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 49
Số lượt truy cập: 946918
QUANG CÁO
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH TỰ KỈ 6/15/2020 4:14:50 PM


1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài.

Cùng với sự phát triển và đổi mói của Đất nước, giáo dục nước ta cũng có những bước phát triển và đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước. Bởi vậy đổi mới giáo dục Tiểu học là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, thông qua phương pháp  dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, tạo cho giờ học nhẹ nhàng hơn, tự nhiên và hiệu quả hơn.

Trong nhà trường thành phần chủ yếu đội ngũ giáo viên - đội ngũ nồng cốt giữ vai trò quyết định trong việc duy trì và giữ vững mục tiêu giáo dục đào tạo trong nhà trường. nói đến quản lý trong nhà trường là phải nghĩ đến việc nâng cao chật lượng đội ngũ giáo viên,chất lượng giáo dục cao hay thấp là do đội ngũ giáo viên quyết định. Bởi vậy, để đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường không có con đường nào khác ngoài việc nâng cao hiệu quả giờ dạy. Đối tượng lao động sự phạm là học sinh. Trong các trường giáo dục chuyên biệt đối tượng giáo dục là các em học sinh khuyết tật.  Như vậy, lao động sư phạm vừa có tính chất trừu tượng vừa có tính chất cụ thể, vừa mang tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật.

- Đối với giáo dục trẻ khuyết tật:

Người giáo viên dạy trẻ khuyết tật vừa là người người thầy dạy văn hóa vừa là người cha, người mẹ chăm sóc cho các em hẳng ngày. Họ cũng là người thuốc chữa trị, phục hồi chứ năng cho các em khiếm khuyết, dạy cho các em biết cách để giao tiếp trong xã hội, biết các kỹ năng sống tối thiểu nhất trong cuộc sống , định hướng cho các em tiếp cận tới tương lai. Đây là một ngành giáo dục đặc biệt đòi hỏi người giáo viên không những có đầy đủ tri thức về giáo dục khuyết tật mà còn đòi hỏi lòng nhân ái, kiên trì, nhẫn nại và biết hi sinh  cho người khác.

Đối tượng lao động sư phạm là học sinh khuyết tật mà đồi hỏi sự chăm sóc phải chu đáo tỉ mỉ, nhân ái, yêu thương. Giáo viên phải là người có trình độ về khoa học giáo dục khuyết tật, có năng lực sư phạm, có phẩm chất nghề nghiệp cần thiết.

Trong quá trình công tác của người giáo viên, nhất là điều kiện phát triển của xã hội như ngày nay, việc nâng cao nhận thức, nâng cao hiểu biết về tự nhiên xã hội, về khoa học của mỗi một con người là một yêu cầu cần thiết. Đặc biệt đối với giáo dục trẻ khuyết tật nói chung, giáo dục trẻ tự kỉ nói riêng rất cần ở người giáo viên phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, nhân cách.

Hơn nữa kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Thương người như thể thương thân”, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến những người thiệt thòi trong xã hội, nhất là đối với trẻ em khuyết tật. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khuyết tật là một vấn đề vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam  đã ban hành Luật về Người khuyết tật có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2011.

Vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật nói chung, giáo dục trẻ tự kỉ nói riêng vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ đối với Việt Nam cả về lí luận và thực tiễn.

       Trẻ tự kỉ là trẻ có rối loạn nhận thức, tinh thần vì vậy trẻ gặp khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thức và các chức năng tâm lý khác. Khi đến trường tất cả những trẻ em bình thường đã có một vốn ngôn ngữ nhất định (ngôn ngữ tiền học đường) và có một khả năng giao tiếp nhất định nhưng đối với trẻ  tự kỉ thì hầu như không có và có rất ít.  Ngôn ngữ của các em là những cử chỉ, hành động tự nhiên, tự phát nhằm truyền tải những nhu cầu, mong muốn của mình với  mọi người xung quanh. Do những khiếm khuyết rối loạn của chức năng não mà khả năng ngôn ngữ cũng như giao tiếp của các em bị hạn chế. Chính vì vậy, vấn đề giáo dục trẻ tự kỉ chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề vô cùng gặp nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây số lượng trẻ tự kỉ tăng nhiều, do đó việc đưa ra các chiến thuật giúp trẻ tự kỉ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, dạy các kĩ năng giao tiếp xã hội cũng như cách đối phó với các hành vi bất thường là một việc làm cấp thiết.  Vì vậy, tôi muốn đúc rút một số kinh nghiệm nên tôi chon đề tài: "Một số biện pháp giáo dục học sinh tự kỉ "

1.2. Điểm mới của đề tài.

Trong thực tế tại Quảng Bình nói chung và Lệ Thủy nói riêng vấn đề giáo dục trẻ tự kỉ mới được bắt đầu trong một vài năm gần đây, nhưng số lượng trẻ tự kỉ thì ngày càng gia tăng. Công tác giảng dạy và chăm sóc trẻ tự kỉ là một vấn đề đang được toàn xã hội nói chung quan tâm và đặc biệt ở các trường giáo dục trẻ khuyết tật chuyên biệt nói riêng. Để nâng cao chất lượng trong giáo dục và chăm sóc trẻ khuyết tật nói chung, chăm sóc và giáo dục trẻ tự  kỉ nói riêng trung tâm đã thành lập câu lạc bộ và triển khai áp dụng tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Lệ Thủy và đã đạt  được một số kết quả khả thi.

Vì thời gian và khả năng có hạn, hơn nữa đây là một vấn đề rộng và phức tạp nên tôi tập trung nghiên cứu đề xuất một số biện pháp mà bản thân tôi cho là quan trọng trong việc giáo dục trẻ tự kỉ tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Lệ Thủy .

2. PHẦN NỘI DUNG:

2.1.Thực trạng vấn đề :

Năm học 2019-2020, Trung tâm có 10 giáo viên đều trẻ. Tất cả giáo viên nói chung đều được sự quan tâm của Ban Giám đốc, của tổ chức Công đoàn. Trong nhiều năm qua, trung tâm đã thực hiện dạy học có kĩ cương, nề nếp. Việc kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, xây dựng được ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh. Trung tâm luôn chỉ đạo, theo dõi sâu sát tất cả các vấn đề về chương trình, về thời gian lên lớp, về chất lượng giáo dục, về sự tiến bộ của học sinh. Đặc biệt, trung tâm rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội ngũ, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, kĩ năng dạy cho học sinh khuyết tật nhằm phát huy tính tích cực của học sinh khuyết tật. Trung tâm đã thực hiện tốt cuộc vận động  “Hai không, tạo niềm tin đối với phụ huynh.

2.1.1 Bảng thống kê trình độ đào tạo về Chuyên môn nghiệp vụ

(Tháng 9/2019)

Tổng số GV

Đại học

Cao đẳng

Viên chức

Ghi chú

SL

%

SL

%

SL

%

 

10

9

90

1

10

10

100

Chỉ 01 GV có bằng chuyên biệt, 5 GV có chứng chỉ chuyên biệt còn lại Gv mới tuyển dụng và từ phổ thông chuyển đến.

         

2.1.2. Tình hình trước khi thực hiện giải pháp

Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Lệ Thủy là trường giáo dục chuyên biệt dành cho trẻ khuyết tật với nhiều dạng tật khác nhau gồm học sinh khiếm thính, khiếm thị, vận động, bệnh tự kỉ, thiểu năng trí tuệ, down,...., có em mang trên mình nhiều tật (đa tật) .

       Tổng số học sinh toàn trường 59 em /7 lớp.

Trong đó: 15 em khiếm thính, 5 em tật vận động, 28 em khuyết tật trí tuệ, 3 em bệnh down,  8 em tự kỉ.

      Công tác giáo dục học sinh khuyết tật nói chung và học sinh tự kỉ nói riêng là việc làm hết sức tế nhị và đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, sự yêu thương học sinh hết lòng, sự tận tụy để sẽ chia phần nào những thiệt thòi do bệnh tật của các em. Công tác này gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:

a. Những thuận lợi cơ bản:

- Đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng đã tạo đà vững chắc cho giáo viên kèm cặp, theo sát được đối tượng học sinh.

- Trong các năm học trung tâm đã tổ chức các chuyên đề về giáo dục học sinh khuyết tật nói chung và chuyên đề tự kỉ nói riêng.

- Hằng năm các trung tâm giáo dục học sinh khuyết tật trong toàn tỉnh thường tổ chức hội thảo chuyên đề về giáo dục học sinh khuyết tật nói chung.

- Đa số phụ huynh đồng tình với cách đánh giá chất lượng giáo dục theo TT 22/2016, từ đó có biện pháp giáo dục con em của mình.

- Trung tâm có nhiều giáo viên đã tham gia tập huấn về trẻ khuyết tật và 1 giáo viên có chuyên môn là giáo dục đặc biệt.

b. Những khó khăn thách thức:

Tuy vậy, bên cạnh những mặt thuận lợi cơ bản, việc giáo dục cho học sinh khuyết tật trong trung tâm vẫn còn một số khó khăn:

- Về phía Trung tâm:  Cơ sở vật chất tuy ngày càng tăng trưởng song vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới giáo dục chuyên biệt.

- Về phía giáo viên:

+ Đa số giáo viên là được đào tạo theo chương trình giáo dục phổ thông, tuổi đời còn trẻ, mới được chuyển đến trung tâm nên ít có cơ hội tham gia các lớp tập huấn về phương pháp và kĩ năng chuyên biệt nên khó khăn cho giáo viên khi dạy học và chăm sóc học sinh tự kỉ.

- Một số giáo viên kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục trẻ tự kỉ còn quá ít hoắc chưa có.

+ Trong một lớp gồm nhiều loại tật khác nhau: khiếm thính, khiếm thị, vận động, bệnh tự kỉ, thiểu năng trí tuệ, down, ..., có em mang trên mình nhiều tật (đa tật) do vậy giáo viên gặp nhiều khó khăn khi tổ chức các hoạt động dạy học cho học sinh.

+ Trong lớp, trong khu nội trú có nhiều đối tượng tật khác nhau nên thời gian quan tâm đến học sinh tự kỉ còn bị hạn chế.

- Về phía học sinh:

+ Đa số học sinh tự kỉ thường ít giao tiếp với cộng đồng nên vốn từ ngữ ít, các em thường sống nội tâm.

+ Nhiều học sinh tự kỉ thường nhút nhát khi giao tiếp do khả năng giao tiếp hẹp.

+ Đối tượng học sinh khuyết tật trí tuệ đều ở mức độ nặng và rất nặng, hầu hết đều có chứng tự kỉ nặng hoặc nhẹ.

+ Trẻ tự kỉ có những điều kiện sống khác nhau, có những độ tuổi khác nhau, có những biểu hiện của chứng tự kỉ cũng khác nhau và có môi trường giáo dục khác nhau. Do vậy việc giáo dục của mỗi trẻ là hoàn toàn khác nhau.

2.1.3 Nguyên nhân của những khó khăn bất cập.

         - Chuyên nghành về giáo dục trẻ tự kỉ ra đời chậm hơn so với các chuyên nghành giáo dục khác.

- Trung tâm được tách ra từ một trường Tiểu học nên đa số giáo viên là giáo viên phổ thông chỉ có 1 giáo viên tốt nghiệp giáo dục đặc biệt.

- Một số giáo viên mới tuyển dụng và một số giáo viên thuyên chuyển công tác từ các trường tiểu học đến, do vậy chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục trẻ tự kỉ còn chưa có.

- Giáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong giáo dục học sinh khuyết tật do vậy chất lượng kiến thức-kĩ năng, năng lực, phẩm chất thường xuất hiện tình trạng phân cực rõ nét khoảng cách ngày càng xa so với học sinh một số tật khác trong lớp. Do vậy những  học sinh tự kỉ khó được bù đắp về kiến thức kĩ năng dẫn đến càng học lên lớp trên càng khó.

- Việc đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ giáo dục trẻ tự kỉ còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở ở xa, nguồn kinh phí lại lớn.

- Mỗi tiết học thực hiện tối đa 35- 40 phút song phải quan tâm đến nhiều đối tượng tật trong lớp. Do đó, thời gian để kèm cặp, phụ đạo cho học sinh tự kỉ còn hạn chế.

- Địa bàn gia đình học sinh phân bố rộng (28 xã, thị trấn trong toàn huyện), hầu hết phụ huynh đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn do đó  phụ huynh có hạn chế về sự quan tâm của con em mình.

        - Nhận thức của phụ huynh về con bị tự kỉ mang tính bi quan nên thiếu quan tâm của việc học tập.

       - Kỹ năng chăm sóc của phụ huynh còn hạn chế nên việc hướng dẫn cho con em còn khó khăn.

      - Do nhiều nguyên nhân tác động về xã hội, môi trường, các nguyên nhân khác mà hiện nay số lượng trẻ ngày càng tăng.

       - Nhóm cộng tác viên giáo dục trẻ khuyết tật còn mỏng chưa đáp ứng nhu cầu của công việc chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỉ.

       - Chính vì vậy, phương pháp điều tra những thông tin về trẻ tự kỉ cũng như việc chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỉ còn gặp nhiều khó khăn, cho nên cần phải có những  biện pháp cấp thiết để nâng cao chật lượng gióa dục trẻ tự kỉ trong nhà trường.

 

- Hiện nay học sinh tự kỉ ở trung tâm ngày càng đông:  8 có trong 7 lớp

          Tuy nhiên, chúng ta nhận diện học sinh tự kỉ để có kĩ năng giúp đỡ phù hợp với từng đối tượng chứ không phải nhận diện để “phân biệt” giữa học sinh tự kỉ và học sinh các tật khác nhằm tránh sự mặc cảm trong các em.

2.2. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đối với học sinh tự kỉ ở trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật.

Ngày nay tất cả các biểu hiện của hội chứng tự kỉ được tổng kết lại trong ba phạm vi lý thuyết:

  + Rối loạn nhận thức - tinh thần:

- Ở đây người ta nói đến sự bât lực của tâm hồn nghĩa là không thể hiểu được những gì xảy ra xung quanh như: Kinh nghiệm sống, suy nghĩ, cẩm giác và hành vi của người khác hơn thế họ còn thiếu hẳn khả năng thấu cảm nên không hiểu được một số cách diễn đạt, các châm biếm hay chuyện hài hước ngắn.

+ Rối loạn " Chức năng thi hành"

- Các rối loạn này thể hiện ở khả năng dự trự tính toán bị giới hạn, ít linh hoạt và khả năng kiên trì.

+ Rối loạn trung tâm phối hợp

   - Ðây là sự rối loạn khả năng phối hợp các điều kiện xẩy ra hay các vật thể thành một tổng thể.  Nhận thức của người tự bế hay ngừng lại ở các chi tiết và họ hiểu ít về các liên hệ nguyên thể. Người tự bế tìm nhanh được các lỗi chính tả hay lỗi viết trong một bài văn nhưng mà nội dung của bài văn họ không hiểu được.

*  Các rối loạn này ảnh hưởng đến:

-  Mối quan hệ xã hội.

-  Giao tiếp và ngôn ngữ.

     - Các mẫu hành động và sở thích.

Từ những biểu hiện của hội chứng tự kỉ và thực trạng của giáo viên về kỹ năng dạy học và chăm sóc học sinh tự kỉ  như trên, tôi mạnh dạn đưa ra  những biện pháp  hỗ trợ giúp giáo dục trẻ tự kỉ iếp cận với cộng đồng xã hôi như sau:

2.1.1.  Biện pháp 1: Tìm hiểu sở thích của trẻ tự kỉ

        Để trẻ tự kỉ và tăng động hòa nhập được với các bạn bình thường khác chúng ta cần phải tìm hiểu sở thích của trẻ, khi trẻ làm được tốt cần phải có sự khuyến khích động viên kịp thời, cần quan tâm chăm sóc trẻ nhiều hơn.

       Giáo viên cần nắm rõ những gì khiến trẻ cảm thấy căng thẳng, bình tĩh, khó chịu, hay thoải mái. Nếu nắm rõ được những gì thường ảnh hưởng đến  trẻ để giải quyết tốt hơn các vấn đề, tránh được những tình huống khó xử và tạo ra những trải nghiệm tích cực hơn cho trẻ.

2.1.2.  Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ tự kỉ

  - Học cách nghe

  - Nhìn- mặt đối mặt

  - Thu hút sự chú ý và chia sẻ sự chú ý

  - Bắt chước việc tạo ra các âm thanh

  - Hiểu các cử chỉ

  - Hiểu cách thể hiện bằng các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt

  - Học các từ và ý nghĩa của từ

  - Sử dụng từ nhiều hơn là các kí hiệu

  - Hiểu ngôn ngữ

  - Dạy trẻ kỹ năng giao tiếp

+ Bắt chước:
-Trẻ học mọi thứ thông qua bắt chước nét mặt, cử động cơ thể (giơ tay chào, tạm biệt...), bắt chước hành động (chơi với đồ chơi), bắt chước âm thanh và từ ngữ (nói)...

+ Học cách nghe:

 - Sử dụng các dấu hiệu để gia tăng sự chú ý của trẻ, ví dụ động vào tai trẻ để “nghe” và động vào má để “nhìn”.

 +Nhìn- mặt đối mặt:

 - Tạo nên mối quan hệ với bé bằng mọi cách có thể, nên sử dụng cách nhìn, nghe, sờ mó.

- Hãy khuyến khích trẻ nhận biết vẻ mặt, ngón chân, ngón tay cả của bạn và của trẻ. Hãy chơi trò chơi và hát bài hát nhấn mạnh những bộ phận của cơ thể.

Thu hút sự chú ý và chia sẻ sự chú ý

 - Hãy tiếp tục chỉ cho trẻ thấy những điều bạn thấy thích thú dù rằng bạn có thể nhận được rất ít phản ứng từ trẻ. Hãy chú ý đến trẻ và nhận xét với những điều mà trẻ đang làm .

+Bắt chước việc tạo ra các âm thanh:

   - Để thúc đẩy không khí từ phổi chuyển ra miệng, hãy chơi các trò chơi như thổi bong bóng, thổi bóng bay hoặc các mảnh giấy nhỏ. Hãy sử dụng các nhạc cụ, nếu trẻ không sẵn sàng bắt chước bạn, hãy quan sát xem trẻ có nhìn bạn không. Hãy xem trẻ có cố gắng làm điều bạn đã làm khi bạn không nhìn bé hay không.

+ Hiểu các cử chỉ:

    - Hãy làm cùng một cử chỉ, hãy cố gắng nhấn mạnh trong cùng một tình huống nhiều lần. Ví dụ, hãy chắc chắn rằng bạn đã thu hút được sự chú ý của trẻ và sau đó đặt một chiếc ghế của trẻ trước khi trẻ ngồi xuống vào bữa ăn và nói “Con hãy ngồi xuống” đồng thời với việc chỉ tay vào chiếc ghế.

+Hiểu cách thể hiện bằng các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt:

   - Hãy giữ thông điệp trên khuôn mặt của bạn, giọng nói của bạn và ngôn ngữ của bạn để bắt đầu trò chơi. Ví dụ khi bạn vui vẻ thì giọng nói vui vẻ, khuôn mặt vui vẻ và nếu cáu giận thì hãy thể hiện ngược lại.

+Học các từ và ý nghĩa của từ

    - Dạy trẻ nói “không” khi trẻ không muốn điều gì đấy, ví dụ khi trẻ gạt đồ chơi sang một bên thì bạn hãy nói “không” để cho trẻ bắt chước. Bạn sẽ giúp trẻ để thực hiện các lựa chọn.

 + Sử dụng từ nhiều hơn là các kí hiệu

   - Mỗi khi trẻ gọi tên các vật, hãy phản ứng như thể là trẻ đang nói với bạn. Hãy cầm lấy vật và giữ lấy vật đó để cho trẻ thấy vật đó và khuôn mặt của bạn khi đó bạn nên nhắc lại tên của vật đó. Ví dụ như trẻ nói “xe”, bạn nên nói “đúng, xe màu đỏ’’.

+Hiểu ngôn ngữ

    - Hãy tìm hiểu các tình huống trẻ đã phản ứng được khi mọi người nói. Sau đó cố gắng sử dụng cùng một từ cho cùng một tình huống.Ví dụ khi trẻ quay đầu lại khi bạn nói’’ bố đã về’’ thì lần sau hãy nói đúng câu như vậy.

    - Hãy làm một thống kê các cụm từ toàn thể gia đình cần dùng trong các trường hợp thường xuyên xảy ra. Chỉ sử dụng các cụm từ trên trong các thời điểm mà việc sử dụng chúng có ý nghĩa.

    - Hãy sử dụng tên của trẻ để thu hút sự chú ý của trẻ lúc bạn bắt đầu nói, chứ không phải vào lúc kết thúc. Điều này để thu hút sự chú ý của trẻ trước khi nói có thể vỗ vào trẻ và nói “Huy”

2.1.3.  Biện pháp 3: Dạy trẻ kỹ năng giao tiếp

   - Vì một số trẻ Tự kỉ không nói được nên giao tiếp có thể là bằng lời cho những trẻ nào đã biết nói, hay dấu hiệu. Thường thường người ta học nói bằng cách bắt chước mà trẻ Tự kỉ thì khả năng bắt chước lại không tốt, vì vậy nguyên tắc dạy nói đi theo qui luật chung trong việc chỉ dạy trẻ là em chỉ chịu liên lạc khi muốn điều mà không thể tự thoả mãn và phải nhờ người khác hay cách khác. Bước đầu tiên trong việc dạy kỹ năng liên lạc cho trẻ là nhận biết ra lúc mà trẻ muốn một điều gì là lúc mà cửa sổ học nói mở rộng nhất,

    - Không riêng gì trẻ Tự kỉ, bất cứ trẻ nào chậm nói đều gặp phải ngôn ngữ quá khó không hiểu được. Khi nói chuyện với trẻ sơ sinh người ta tự động điều chỉnh ngữ vựng cho đơn giản hơn, lặp đi lặp lại nhiều hơn và lên xuống giọng rõ nét hơn. Do trực giác ta làm vậy để khi trẻ nghe một chữ nhiều lần thì biết nắm lấy phát âm của chữ, thính giác của trẻ sơ sinh chưa được thành thạo như của người lớn nên trẻ xếp đặt thông tin chậm, chưa hiểu ngay ra được âm phát ra lần đầu.

    - Cách học này gây ra nhiều khó khăn cho trẻ Tự kỉ. Một số em gặp trục trặc ngay từ đầu và không bao giờ nói được, trẻ không đáp ứng khi nhìn trả lại, mỉm cười với cha mẹ… nên cuối cùng việc thiếu đáp ứng này có thể làm cha mẹ nói với trẻ như với một người lớn, hay nói mà không thực tâm chờ được trả lời. Làm vậy càng khiến cho cơ hội học nói của trẻ giảm thêm. Mặt khác khi trẻ có anh chị thì cha mẹ thường quen nói theo tuổi, dùng chữ có mức độ khó khăn theo tuổi và có thể không nhớ rằng trẻ Tự kỉ chậm phát triển, có tuổi năm tháng cao nhưng ngôn ngữ không cao bằng. Kết quả là càng ngày trẻ càng thụt lùi tới khi phải có trợ giúp đặc biệt mới nói được.

- Vậy làm thế nào để giúp trẻ tự kỉ bước đầu tiên cần xác định tuổi về ngôn ngữ của trẻ, ví dụ trẻ 3 tuổi nhưng ngôn ngữ chỉ phát triển bằng trẻ 1 tuổi, về mặt này do chỉ số thông minh IQ có ích lợi là nó cho biết về tuổi ngôn ngữ và tuổi này liên hệ ra sao với sự phát triển nói chung của trẻ. Khi biết khả năng thực tế về ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ, cha mẹ và giáo viên có thể lập kế hoạch phát triển ngôn ngữ cũng như điều chỉnh cách thức giao tiếp cho phù hợp với trình độ của trẻ, bởi có hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ diễn đạt, ngôn ngữ diễn đạt có khi diễn ra chậm hơn nữa so với việc nghe hiểu, nên kích thích khả năng nói có thể giúp ích cho trẻ.

2.1.4.  Biện pháp 4: Gần gũi, khuyên bảo:

        Giáo viên  cần dành thời gian phân tích, nói cho các em hiểu bằng hành     động nhẹ nhàng, có những phần thưởng nho nhỏ mỗi khi các trò trở nên ngoan hơn, hoặc hòa đồng cùng các bạn hơn. Bảo ban, khuyến khích trẻ chơi cùng các bạn và nhờ các bạn khác quan tâm tới trẻ hơn không phân biệt, kì thị nhau

       Buổi sinh hoạt cuối tuần nên chơi các trò chơi và hướng dẫn chi tiết trẻ tự kỉ  về thể lệ chơi và theo dõi chặt chẽ để ý hành động của trẻ, tránh để cho trẻ bị rơi vào tình trạng cô lập hoặc gây những hành động ảnh hưởng đến các bạn khác. Để trẻ tự kỉ tham gia hoạt động chung, những nơi đông người, trẻ nhằm cải thiện khả năng hòa nhập xã hội và xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với bạn đồng trang lứa. Dạy trẻ biết cách chơi chung với các bạn bằng việc chia sẻ đồ chơi, yêu cầu được giúp đỡ. 

         Giao tiếp với trẻ nhiều hơn, chú ý sử dụng cả ngôn ngữ cơ thể lẫn ngôn ngữ  nói, gọi tên trẻ trong nói chuyện cũng là cách để trẻ học tập cách biểu cảm ý muốn của mình phù hợp. Nếu trẻ có yêu cầu gì mà chỉ ra hiệu, không nói thì nhất quyết không đáp ứng yêu cầu. Đề nghị trẻ nói lên ý muốn của mình. Kiên nhẫn, trò chuyện với trẻ nhiều hơn là một trong những cách để giúp trẻ tự kỉ hòa nhập với cộng đồng.

2.1.4.  Biện pháp 4: Quan tâm chăm sóc

      Dành thời gian cho những trẻ tự kỉ vào các giờ nghỉ cá nhân, chăm sóc, hỏi han, dạy dỗ, tạo điều kiện cho các em hòa nhập với các bạn, bổ sung thêm những kiến thức mà các em chưa nắm được do tiếp thu chậm. Thường xuyên gọi lên bảng, nếu trẻ sai thì khuyến khích các bạn khác giúp đỡ bạn, không phân biệt kì thị tạo cho trẻ cảm giác cô lập.

     Trẻ tự kỉ cần được giáo viên quan tâm bằng cách cho ngồi bàn đầu trước mặt giáo viên để giúp trẻ tập trung hơn, tránh ngồi gần cửa sổ. Khi giao việc cho trẻ giáo viên nên chia công việc theo từng bước nhỏ để trẻ dễ thực hiện. Khi trẻ phá phách hoặc ngang bướng và không biết nghe lời, để giúp trẻ kiềm chế cảm xúc nên cho trẻ ra một chỗ yên tĩnh hơn khoảng 5 phút (đây không phải là hình phạt). Cần trao đổi nhẹ nhàng về hành vi của trẻ để trẻ hiểu và định hướng trẻ thay đổi.

2.1.5.  Biện pháp 5: Tuyên dương những hành vi tốt

        Tuyên dương có thể mang lại những tiến bộ đối với trẻ tự kỉ, vì vậy giáo viên và phụ huynh nên cố gắng động viên để trẻ tiếp tục phát huy những điều tốt đã làm được. Hãy tuyên dương trẻ khi chúng biết cách ứng xử hay học được 1 kĩ năng mới và nên chỉ ra một cách cụ thể hành vi nào của trẻ đang được khen. Bạn nên nghĩ ra những cách khác nhau để thưởng cho trẻ.

2.1.6.  Biện pháp 6: Kết hợp với cha mẹ học sinh

      Xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa trẻ với gia đình (đặc biệt là với mẹ), quan hệ giữa trẻ với giáo viên, với bạn bè và môi trường xung quanh để thiết lập mối quan hệ tương tác xã hội.

         Mạnh dạn trao đổi với phụ huynh rằng trường học, bác sĩ tâm lí chỉ là nơi cung cấp cho bố mẹ những kiến thức, hỗ trợ và giám sát chương trình chăm sóc, giáo dục và trị liệu tại gia đình. Trao đổi với cha mẹ trẻ về những tiến bộ của trẻ khi ở trường, lúc về nhà, những điều chưa khắc phục được và bàn bạc, tìm ra phương pháp có lợi nhất cho sự phát triển của học sinh.

      Hòa nhập xã hội đối với trẻ tự kỉ là điều cần thiết và là nền tảng vững chắc cho sự phát triển và giáo dục đối với trẻ trong tương lai của trẻ. Chúng ta cần thiết phải nhìn nhận trẻ tự kỉ là một đứa trẻ bình thường và hoàn toàn có thể thay đổi tiến bộ được.Để giáo dục trẻ tự kỉ có thể hòa đồng được với cuộc sống xã hội là cả một quá trình tác động lâu dài. Và giáo dục giúp trẻ hòa nhập không phải là việc đơn giản  ngày một, ngày hai chính vì vậy cần phải có sự tác động kiên trì, tâm huyết từ thầy cô, bạn bè, cha mẹ và những người thân xung quanh trẻ.

2.3  Kết quả đạt được

Qua quá trình vận dụng linh hoạt các biện pháp trên, chúng tôi nhận thấy các em học sinh có những tiến bộ rõ rệt về khả năng giao tiếp. Kết quả cho thấy các em học sinh mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp hơn, sử dụng được các phương tiện giao tiếp, những khó khăn trong giao tiếp cũng được giảm đi, kết quả cụ thể như sau:

 

 

 

Nội dung

Tỉ lệ

Mức độ đánh giá

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Năm  2018 -2019

Năm

2019 -2020

Năm

2018 -2019

Năm

2019 -2020

Năm

2018 -2019

Năm

2019 -2020

Mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp

SL

1

2

2

 3

5

3

%

12,5

25,0

25,0

37,5

62,5

37,8

Hiểu từ vựng trong giao tiếp

SL

1

2

2

3

5

3

%

12,5

25,0

25,0

37,5

62,5

37,5

Hiểu các yêu cầu

SL

1

3

2

3

5

2

%

12,5

37,5

25,0

37,5

62,5

25,0

Biểu đạt tình cảm

SL

0

4

2

2

6

2

%

 

50,0

25,0

25,0

75,0

25,0

      

     Bảng thống kê cho thấy sau 2 năm học áp dụng các biện pháp trên, học sinh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sự mạnh dạn và tự tin hơn trong giao tiếp của các em ở mức độ thường xuyên đã tăng lên, còn mức độ hiếm khi đã giảm xuống đáng kể. Điều đó cho thấy các em đã mạnh dạn và tự tin hơn trong giao tiếp. Ở mức độ thường xuyên các biểu hiện như: Hiểu từ vựng trong giao tiếp, hiểu yêu cầu hay biểu đạt tình cảm cũng tăng lên đáng kể. Như vậy qua bảng số liệu trên cho thấy các em có số lượng từ vựng đã nhiều hơn, hiểu các yêu cầu đơn giản, phản ứng lại lời nói nhanh hơn, thích giao tiếp với cô giáo và các bạn trong lớp.

Qua một thời gian được học tập và sinh hoạt ở lớp và các hoạt động ngoài giờ, đa số các em có những biểu hiện tích cực khi giao tiếp:

- Học sinh hiểu được nhiều từ vựng.

- Học sinh hiểu và thực hiện được một số yêu cầu đơn giản trong sinh hoạt hằng  ngày.

- Học sinh có biểu đạt tình cảm phong phú hơn trong giao tiếp.

- Học sinh có tiến bộ hơn trong hợp tác như chơi một số trò chơi đơn giản.

Từ đó, các em không còn ngại trao đổi những tâm tư, tình cảm của mình với bạn bè và giáo viên, giúp chúng tôi hiểu học sinh mình nhiều hơn. Điều này chứng tỏ chúng ta đã có những biện pháp phù hợp để phát triển khả năng giao tiếp của các em.

3. PHẦN KẾT LUẬN

3.1. Ý nghĩa của đề tài

- Từ thực trạng nói trên, chúng tôi thấy vấn đề giáo dục trẻ tự kỉ là rất cần thiết,  cần được tăng cường hơn nữa, cần phải tìm ra nhiều biện pháp phù hợp với hoàn cảnh thực tế của nhà trường để công tác giáo dục và chăm sóc học sinh tự kỉ đạt kết quả cao hơn.

- Để đạt được mục tiêu trong giáo dục và chăm sóc học sinh khuyết tật nói chung, trẻ tự kỉ nói riêng, vấn đề sử dụng các biện pháp linh hoạt là yếu tố cơ bản quyết định trực tiếp đến chất lượng giáo dục học sinh tự kỉ.

- Người giáo viên, nhân viên cần phải có đức tính kiên trì, chịu khó, phát huy tinh thần trách nhiệm, biết kết hợp chặt chẽ, liên hệ thường xuyên với phụ huynh học sinh, có biện pháp tâm lý xã hội, biết tìm hiểu, học hỏi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tay nghề cho bản thân.

Đặc biệt hơn nữa:

         - Đối với bản thân học sinh : Có thể ngăn ngừa những nhân tố nguy hiểm tới đứa trẻ, thực hiện chức năng chữa bệnh; ngăn cản việc chậm phát triển cũng như những khuyết tật khác gia tăng.

- Việc trẻ tự kỉ học hòa nhập ở trung tâm không chỉ tạo điều kiện giúp trẻ tự kỉ phát triển khả năng, mà còn là nơi giáo dục nhân cách và ý chí phấn đấu cho học sinh toàn trường.

- Đối với phụ huynh: Giảm bớt căng thẳng về vấn đề tình cảm của mình, bớt bi quan khi nghĩ con mình bị tự kỉ, cải thiện mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ.

- Làm cho các thành viên trong gia đình ngày càng gắn bó, đoàn kết hơn, giảm nhẹ gánh nặng đối với vấn đề chăm sóc - giáo dục trẻ tự kỉ.

- Đối với xã hội : Có quan điểm, thái độ đúng đắn đối với trẻ tự kỉ nói riêng và trẻ khuyết tật nói chung.

Có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ công tác bồi dưỡng để nâng cao kĩ năng giáo dục và chăm sóc trẻ tự kỉ cho đội ngũ như sau:

- Thiết lập các biện pháp trong dạy học và chăm sóc học sinh tự kỉ một cách cụ thể trên cơ sở đó mới giúp giáo viên có động lực tự giác tham gia bồi dưỡng bồi dưỡng và vận dụng một cách có hiệu quả các biện pháp trong dạy học và chăm sóc học sinh tự kỉ.

- Tổ chức nhiều hình thức bồi dưỡng đội ngũ trong đó chú trọng khâu thiết kế bài học đến việc thực thi giảng dạy trên lớp có học sinh tự kỉ, rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc sau hai khâu quan trọng này.

- Không ngừng nâng cao ý thức tự bồi dưỡng chuyên đề tự kỉ của mỗi một giáo viên, nhân viên. Công tác tự bồi dưỡng, tự rèn luyện năng lực sư phạm để có tay nghề cao trở thành một yêu cầu không thể thiếu được của mỗi giáo viên, nhân viên.

Đồng thời, bồi dưỡng năng lực dạy học trên lớp, chăm sóc học sinh  tự kỉ là nhiệm vụ quan trọng, thiết thực để nâng cao kỹ năng sư phạm cho đội ngũ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của Giáo dục chuyên biệt ở trung tâm hiện nay.

3.2. Kiến nghị, đề xuất

3.2.1. Phòng GD & ĐT:

-Rất mong lãnh đạo cấp trên tạo điều kiện cho giáo viên được đi đào tạo dài hạ, ngắn hạn, tăng cường tập huấn về phương pháp giáo dục trẻ tự kỉ.

- Có công văn chỉ đạo, hướng dẫn nhằm nâng cao chất lượng đối với học sinh tự kỉ (ở các trường tiểu học học hòa nhập) đặc biệt  đối với trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật.

- Trang cấp một số đồ dùng dạy học, trang bị thêm thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc dạy học trẻ tự kỉ ở trung tâm.

- Quản lý việc thực hiện dạy học sinh tự kỉ, theo dõi việc thực hiện có đánh giá đối với trung tâm.

- Tổng kết kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật và hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên và nhân viên dạy ở trung tâm.

- Tham gia quản lý cơ sở dữ liệu và thông tin về trẻ khuyết tật đang theo học hòa nhập của huyện.

- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên hỗ trợ cấp tỉnh và huyện.

- Phát hiện vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện đưa ra các giải pháp, hoặc chỉ đạo để tìm ra giải pháp.

3.2.2. Gia đình trẻ tự kỉ:

- Gia đình đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đứa trẻ. Đây là môi trường phù hợp với sự phát triển của trẻ, ở đó trẻ có được cảm giác an toàn, trẻ được lớn lên trong tình thương của những người ruột thịt; được nuôi dưỡng theo phương thức đặc biệt. Gia đình còn là môi trường phong phú tạo nhiều cơ hội để trẻ học tập được những kinh nghiệm sống cần thiết.

- Đầu năm học, bộ phận làm công tác chuẩn bị kỹ năng cho trẻ khuyết tật hòa nhập vào các bậc học từ lớp một, đồng thời bàn về sự chuẩn bị hồ sơ, kết quả học tập và các bước chuyển giao trẻ về các trường học.

Trước khi đến trường, do khả năng giao tiếp bị hạn chế, trẻ khuyết tật tự kỉ thường có rất ít bạn bè. Để tránh những mặc cảm ban đầu, ngoài việc chuẩn bị học cụ cần khuyến khích, động viên trẻ. Trong quá trình tổ chức hỗ trợ các giáo viên và gia đình giúp cho trẻ tìm những bạn gần nhà để cùng đi học và giúp đỡ trẻ mỗi khi đến trường.

3.2.3. Đối với giáo viên và nhân viên ở trung tâm 

Không phải mọi trẻ tự kỉ đều có thể đạt được tới mức độ hòa nhập cao, cho nên không thể đồng nhất chất lượng của GDHN với mức độ hòa nhập. Chất lượng của GDHN là khả năng đáp ứng nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ và mức độ hiện thực hoá tiềm năng của trẻ thành khả năng thực tế của trẻ.

Lập hồ sơ và tổ chức thực hiện kế hoạch là việc làm rất quan trọng trong GDHN trẻ tự kỉ. Để làm được việc này, trước hết cần cơ chế để tập hợp các nguồn lực cần thiết thực hiện đồng bộ, sát sao nội dung được đúc rút trong thời gian qua về giáo dục và chăm sóc trẻ tự kỉ tạo tiền đề giúp đỡ các em học tốt, thực hiện tốt việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch cá nhân cho từng trẻ, giúp trẻ khuyết tật từng bước hòa nhập được với môi trường sinh hoạt tập thể.

Đối với trẻ tự kỉ, khả năng ngôn ngữ hạn chế dẫn đến sự kém phát triển của tư duy và do đó các em không thể tiếp thu được các khái niệm trừu tượng, mặc dù về tiềm nằng nhiều em rất thông minh. Nếu được giáo dục tốt, nhiều trẻ em điếc vẫn có thể trở thành nhà văn, bác sĩ. Trong trường hợp đó có thể nói là GDHN thành công, có chất lượng. Kết quả giáo dục được đo bằng mức độ hiện thực hoá khả năng của từng cá nhân trẻ khuyết tật. Nếu chúng ta phát triển tối đa các tiềm năng của các em, có thể nói là các em đã được giáo dục có chất lượng.

Trên đây là những biện pháp, những công việc bản thân tôi chỉ đạo giáo viên, nhân viên đã làm, đang làm và tiếp tục thực hiện trong quá trình công tác bồi dưỡng để nâng cao chất lượng cho học sinh tự kỉ ở Trung tâm. Những kết quả gặt hái được chưa thật sự đáp ứng yêu cầu mong muốn nhưng đã khẳng định được tính khả thi của vấn đề đưa ra. Rất mong sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn, góp phần bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giảng dạy và chăm sóc học sinh tự kỉ cho giáo viên, nhân viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục học sinh khuyết tật ở Trung tâm trong giai đoạn hiện nay.

 Xin chân thành cảm ơn!

 

 

 

 

                                                                             

                                                                         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


BBT

TRUNG TÂM GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 0232.3882126 - Email: ttgdtkt@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường
ĐT: 0912.037911 - Email: cuonggiaoduc@yahoo.com